

Thư pháp và
nhân cách
lê anh
dũng ·
những
thông điệp sắc màu

Chữ Đạo
Từ 24-6 đến
01-7-2001,
tại Trung tâm Văn hóa quận 1 (số 6 Mạc Đĩnh Chi, SG) có cuộc triễn lăm nhỏ
«hai
trong một»,
gồm hàng trăm Thư pháp và Sách học làm người của nhiều tác giả tên
tuổi. Có thể t́m thấy mối liên quan nào trong sự
«kết
hợp»
như thế chăng?
Chữ Hán, thư là
viết chữ; pháp là cách thức. Hiểu ngắn gọn, thư pháp là cách viết chữ.
Trong ngôn ngữ phương Tây (chẳng hạn tiếng Anh), từ calligraphy gồm
calli + graphy. Calli do gốc Hy Lạp kalli, phát sinh từ
kallos (vẻ đẹp); graphy do gốc Hy Lạp graphein (viết chữ).
Vậy thư pháp là cách viết chữ đẹp. Xét như thế, thư pháp rơ ràng không
phải là nghệ thuật của riêng một dân tộc nào; mọi dân tộc đă có chữ viết đều có
thể tạo ra thư pháp cho ḿnh.
Thời xưa, khi nghề in
chưa có (hoặc đă có mà chưa tinh vi), những văn kiện quan trọng hay tác phẩm
thiêng liêng đều cần những nhà thư pháp (calligraphers) nắn nót, trau
tria từng nét một. Các bản hiến pháp của nhiều nước phương Tây từng được viết
bằng bút lông ngỗng là một thí dụ. Đặc biệt, với kinh điển của nhiều tôn giáo,
các nhà thư pháp c̣n dốc ḷng tôn kính, trọn ǵn trai giới và kiêng tửu sắc
trong suốt những ngày tháng tỉ mỉ chép kinh thành những tác phẩm mỹ thuật mà
ngày nay một số kiệt tác c̣n may mắn giữ được đă trở thành tài sản văn hóa vô
giá của các viện bảo tàng tên tuổi trên thế giới.
Như nói trên, thư pháp
không bao giờ là độc quyền của một hệ thống chữ viết nào. Họa sĩ Từ Băng (Trung
Quốc) từng đến
New York dạy cho
người Mỹ viết thư pháp bằng tiếng Anh, rất được hoan nghênh (1996). Từ lâu,
người Việt đă sớm biết
«cách
tân»
thư pháp chữ Hán thành thư pháp chữ Việt, và Đông Hồ Lâm Tấn Phác có lẽ là một
trong những nhà tiên phong. Bài thơ Prayers (Lời cầu nguyện) của thi hào
R. Tagore đă được vị danh sĩ đất Hà Tiên dịch ra song thất lục bát rồi viết bằng
bút lông với mực nho trên cánh quạt giấy (1959), được trân trọng lưu giữ ở Ấn Độ.
Mỗi nhà thư pháp tên
tuổi đều có bút pháp riêng. Về mặt mỹ học, người ta lư luận rằng bút pháp đó có
thể mang những tính chất như: gân cốt, khí lực, uyển chuyển, cân xứng (quân
chỉnh), v.v... Vậy căn cứ vào đâu để nhận ra thư pháp nào đẹp hay chưa đẹp?
Người xem có cần phải biết khá nhiều lư thuyết và kỹ thuật của các
«nhà»
rồi mới đủ sức cảm nhận cái đẹp của thư pháp không? Trộm nghĩ, cái đẹp tự nó là
đẹp, được cảm thụ trực tiếp và tự nhiên, há phải đợi những biện giải chi li với
rườm rà phân tích!
Người viết vốn dĩ từ
chỗ xuất kỳ bất ư mới có thể để lại đời nét mực thần với đường bút thánh. Người
thưởng ngoạn cũng nên lấy tâm không để lĩnh hội tài hoa. Đứng trước bức thư pháp,
hăy buông xả mọi định kiến và dư luận; hễ tự ḷng ta thấy nó đẹp và thực sự
thích thú thưởng ngoạn, thế là đủ lắm rồi, dẫu ai kia khác ư th́ cũng mặc t́nh,
nào có sao đâu!
Nét chữ thể hiện nết
người. Rèn thư pháp chính là rèn nhân cách. Từ xa xưa các sách dạy thư pháp
Trung Quốc đều chủ trương rằng:
«Học
tập thư pháp có thể tu thân, dưỡng tánh, trui luyện tâm t́nh.»
Từ đó, họ
kính cẩn tôn thư pháp lên thành Đạo (Thư pháp giả, Đạo dă.) để rồi ở xứ
sở mà thậm chí uống trà cũng là đạo th́ người Nhật có nệ chi mà chẳng gọi thư
pháp là thư đạo (shodo)!
Người khổ luyện thực
hành thư pháp có thể dùng cái đẹp của chữ và mực để rèn giũa tâm hồn đă đành, mà
người chơi thư pháp cũng có thể mượn nét bút tài hoa của người khác để trau tria
đời sống tinh thần. Với chủ định này, giờ đây chữ Hán, chữ Việt hay là tiếng
Pháp, tiếng Anh chi chi chăng nữa cũng chẳng c̣n ngăn ngại, miễn sao thực tâm
thích cái đẹp của tấm chữ để rồi chọn treo nơi nào ḿnh hay chạm mắt tới. Ngày
ngày, ra vào thấy chữ là ngắm nghía trầm ngâm, ngẫm nghĩ răn ḷng…
Tùy xu hướng tâm linh,
tùy nhu cầu t́nh cảm, và tùy mục đích đang đeo đuổi mà chọn một chữ, lựa một câu
trong thiên kinh vạn quyển của văn hóa Đông Tây, cổ kim nhân loại. Giữa buổi lừa
lọc, xa hoa, có người treo chữ Tín, chữ Kiệm. Bậc chức trọng quyền
cao biết giữ cái tâm có thể treo cả câu Quan nhất thời, dân vạn đại. Biết
vơ vẽ chữ Nho, treo hai chữ Tích thời chỗ học hành hay nơi làm việc, ấy
là tự răn ḿnh phải quư tiếc ngày giờ, đừng lăng phí thời gian. Lắm khi chỉ trơ
trọi một chữ Nhẫn tung hoành trên giấy mà hàm súc biết bao ư t́nh hối ngộ
của kẻ quen tánh nóng giận buông lung, đang gắng tập kềm thúc ngọn lửa ḷng sân
nộ.
Lấy chữ làm tranh, mượn
cái đẹp ngoại vật hiển bày để làm phương tiện trau giồi cho nên cái đẹp nội tâm
tàng ẩn, đó là một cách trong nhiều cách học làm Người. Tự ḿnh nhắc nhở
ḿnh bằng lời lẽ trang trọng treo trên vách, ư thức đó và hành vi đó mới đẹp làm
sao! Thư pháp và Nhân cách, hai cái đẹp cứ ngỡ rằng biệt lập cách
ngăn mà hóa ra vẫn liên hệ tương quan nhiều lắm vậy.
●
LÊ ANH DŨNG
(28-6-2001)
Cùng
một tác giả Lê Anh Dũng
Đôi ḍng sơ
lược về tác giả Lê Anh Dũng
|