VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ THIÊN LƯ BỬU T̉A VÀ NGƯỜI LĂNH ĐẠO

1) SƠ LƯỢC TIỂU SỬ CỦA CHƯỞNG QUẢN BẠCH DIỆU HOA (1923-2009):

Chưởng quản Bạch Diệu Hoa, người lănh đạo tinh thần của Thiên Lư Bửu Ṭa, nguyên là dưỡng nữ của Ngài Thiên Huyền Tâm (ĐẠI GIÁC KIM TIÊN).

Nhủ danh là Nguyễn Thị Minh Châu, tên trong giấy tờ khi định cư tại Hoa Kỳ là Nguyễn Thị Phố, sanh ngày mùng 1 tháng 4 âm lịch năm 1923 tại quận Lai Vung, tỉnh Sa Đéc, xuất thân từ một gia đ́nh làm nghề nông.

Cha: Nguyễn Văn Lễ (đắc vị Huệ Thanh Kim Tiên).

Mẹ: Trần Thị Giỏi (đắc vị Bạch Diệu Năng Tiên Nữ).

Chưởng quản Bạch Diệu Hoa lúc 17 tuổi học nghề y tá tư, đến năm 26 tuổi lập gia đ́nh với ông Bùi Văn Phương. Được 5 năm th́ người bạn đời mất, bỏ lại 3 con c̣n rất nhỏ: người con gái lớn là Bùi Phụng Mai lúc đó mới 4 tuổi, người con kế tên Bùi Mỹ Hoa 2 tuổi, và người con út là Bùi Văn Hiếu lúc đó c̣n là một bào thai.

Khi góa chồng, Chưởng quản Bạch Diệu Hoa mới 31 tuổi. Trước cảnh sanh ly, tử biệt, chồng mất để lại 3 người con thơ côi cút, Chưởng quản đă giác ngộ, hiểu rơ đời là vô thường, nên đi t́m Minh sư cầu Đạo tu thân, thọ truyền tâm pháp của Đức THIÊN HUYỀN TÂM (sau khi quy liễu, Ngài chứng đắc ĐẠI GIÁC KIM TIÊN, có giảng dạy rất nhiều bài trong phần 2 của quyển "Đại Giác Thánh Kinh và Kinh Thánh Giáo Pháp").

Thời gian này, Việt Nam bị xáo trộn nhiều v́ chiến tranh, đời sống vô cùng cơ cực. Sau khi được thọ truyền tâm pháp tu thân, Chưởng quản Bạch Diệu Hoa một mặt bôn ba đây đó hành nghề y tá nuôi ba con c̣n nhỏ, một mặt không nản ḷng thối chí, trường chay, tuyệt dục, mỗi ngày phải dành thời gian để hành tâm pháp 4 thời: Tư, Mẹo, Ngọ, Dậu. Dù do công phu hành tŕ không gián đoạn, trí tuệ sáng ra, nhưng Chưởng quản Bạch Diệu Hoa vẫn nghĩ rằng ḿnh tu chưa đủ, nên quyết ḷng t́m chơn lư cho rốt ráo hơn. Chưởng quản bèn t́m đến Chiếu Minh Tổ Đ́nh ở Cần Thơ (do Đức Ngôi Hai Giáo Chủ của Cao Đài Đại Đạo Ngô Minh Chiêu sáng lập) để xin thọ truyền bí pháp Đại thừa của Đức Ngôi Hai.

Giáo pháp thiền định Đại Thừa nầy không phải ai muốn tu cũng được mà phải tùy theo nhân duyên. Trước tiên, vị Minh Sư bảo người muốn thọ truyền bí pháp ra đối trước Thiên bàn cầu theo ư nguyện của ḿnh, rồi xin 3 keo. Nếu tất cả 3 keo đều được th́ người đó mới được thọ truyền bí pháp, c̣n nếu có 1 keo không được th́ thôi. Chưởng quản Bạch Diệu Hoa xin được hết 3 keo. Kể từ đó Chưởng quản thọ truyền tâm pháp, ẩn dật tu thân theo phái Chiếu Minh: ngủ ngồi, trường chay, tuyệt dục, mỗi ngày phải tọa thiền 4 tiếng cho bốn thời Tư, Mẹo, Ngọ, Dậu.

Sau biến cố 30-4-1975, Việt Nam thay đổi chủ quyền, Chưởng quản Bạch Diệu Hoa theo gia đ́nh của 2 người con gái lớn qua Mỹ, định cư tại tiểu bang California, thành phố San Jose.

Xót xa trước cảnh khổ đau của dân tộc Việt Nam: chết v́ chiến tranh, chết v́ tù tội, chết v́ vượt biên; và xét thấy tất cả loài người trên quả địa cầu nầy đều cùng chung một hoàn cảnh đau khổ, Chưởng quản Bạch Diệu Hoa càng tinh tấn tu hành hơn trước và phát tâm tụng Kinh Cứu Khổ của Đức Quan Thế Âm để cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam và toàn thể nhơn loại đều được sống trong cảnh an lạc thái b́nh.

 

2) SƠ LƯỢC VỀ NGÔI THIÊN LƯ BỬU T̉A:

Thiên Lư Diệu Đàn đă được phôi thai trong thời gian đầu tiên (1975, 1976) Chưởng quản Bạch Diệu Hoa cư ngụ tại San Jose, CA. Nhờ công năng tu luyện Đại thừa trên 20 năm, Chưởng quản lúc đó đă mở huệ, thông công tiếp điển được với Bề Trên qua nhịp cầu Cơ bút.

Đến ngày 15-5-1977 Cao Đài Đại Đạo Đệ Nhị Thiên Khai Thiên Lư Diệu Đàn được chính thức h́nh thành. Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế, Đức Diêu Tŕ Kim Mẫu, và chư Phật Tiên Thánh lần lượt giáng tả bộ Kinh "Đại Giác Thánh Kinh & Kinh Thánh Giáo Pháp". Đến ngày Rằm tháng 10 năm Kỷ Mùi (4-12-1979) Đức Chí Tôn chính thức ban bảo danh "THIÊN LƯ BỬU T̉A" (xin coi trọn bài đàn trong "Đại Giác Thánh Kinh & Kinh Thánh Giáo Pháp"). Danh xưng ở trên chữ Thiên Lư Bửu Ṭa trong các văn kiện trước đây là "Đệ Nhị Thiên Khai", sau đổi thành "Huỳnh Đạo Thiên Khai" cũng do Đức Chí Tôn ban cho, hàm ẩn ư nghĩa cơ Đạo nơi hải ngoại nầy do chính Đức Chí Tôn chủ quyền sáng lập. H́nh thức Thiên bàn, Thánh tượng Thiên Nhăn, và cách hành giáo nơi Thiên Lư Bửu Ṭa đều do Đức Chí Tôn và Bề Trên chỉ giáo qua nhiều Đàn cơ.

Trong 10 năm đầu (1976-1986), Thiên Lư Diệu Đàn, sau đó là Thiên Lư Bửu Ṭa đều tọa lạc tại thành phố San Jose, tiểu bang California.

Đến năm 1987, cũng do nhân duyên kỳ ngộ (xin đón coi trong tương lai), Thiên Lư Bửu Ṭa dời địa điểm về thành phố San Martin (nằm về hướng Nam của thành phố San Jose, khoảng 20 phút lái xe), tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Nếu tính đến 15-5-2008 là ngày Kỷ niệm Huỳnh Đạo Thiên Khai tại hải ngoại th́ Thiên Lư Bửu Ṭa đă bước vào năm thứ 32. Nhiệm vụ chánh của Thiên Lư Bửu Ṭa là xây nền đắp móng cho cơ phổ hóa Đại Đồng và Hiệp Nhứt của Cao Đài Đại Đạo, truyền bá các quyển Kinh mới (được giáng tả nơi đây) và cũ (tái bản từ Việt Nam đem ra) để phổ thông giáo lư của Đại Đạo. Ngoài ra, Thiên Lư Bửu Ṭa c̣n tổ chức các cuộc Lễ quan trọng theo Thánh lịnh của Bề Trên... (Muốn biết rơ về cơ Đạo nơi Thiên Lư Bửu Ṭa, xin nghiên cứu quyển "Đại Giác Thánh Kinh & Kinh Thánh Giáo Pháp" và các bài Thánh Giáo do Bề Trên giáng tả tại Thiên Lư Bửu Ṭa từ 1977 trở đi). Có nhiều Thánh lịnh quan trọng trong các đàn cơ mật chưa được phổ biến, hoặc có phổ biến cũng chỉ giới hạn, không phổ biến hết bài...

Các thời điểm quan trọng trong đạo sự của Thiên Lư Bửu Ṭa (do Chưởng quản Bạch Diệu Hoa lănh đạo và thiết lập các đàn cơ) có thể ghi lại như sau:

- Kỷ niệm Đệ Nhị Huỳnh Đạo Thiên Khai tại hải ngoại 15-5-1977. Thiên Lư Diệu Đàn được h́nh thành.

- Ngọc Hoàng Thượng Đế, Diêu Tŕ Kim Mẫu cùng các Đấng giáng tả "Đại Giác Thánh Kinh & Kinh Thánh Giáo Pháp" 1977 (đă in bốn lần, lần thứ bốn vào năm 2006).

- Thánh lịnh cử hành Lễ "Tam Giáo Qui Nguyên" (1-8-1977 dương lịch).

- Thánh lịnh cử hành Lễ "12 phái Đạo Cao Đài hiệp tác qui nguyên" (Rằm tháng 8 Đinh Tỵ 1977)

- Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế chính thức ban Bảo danh cho Thiên Lư Bửu Ṭa trong đàn cơ ngày Rằm tháng 10 năm Kỷ Mùi, nhằm ngày 4-12-1979. (Xin coi thêm phần các đàn cơ)

THIÊN tải nhựt phùng chuyển thế gian,

Đạo hoằng khai giữ kiện toàn,

BỬU thị danh đề khư vạn bá,

T̉A vàng rực chói ánh hào quang.

THIÊN LƯ BỬU T̉A

- Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế ban bảo vật cho toàn thể dân tộc Việt Nam trong đàn cơ ngày 11-10-1981 để sau nầy đem ra xử dụng vào một thời điểm thích hợp.

- Cựu Hoàng Bảo-Ðại và phái đoàn thăm viếng Thiên-Lý Bửu-Tòa 12-2-1982.

- Ðại-Lễ Cầu-An Ðịa-Chấn 21-3-1982

- Ðức Di-Lạc Vương-Phật giáng tả quyển "Bảo-Pháp Chơn-Kinh" tháng 11-1983 (đă in tháng 11-1984).

- Thiên-Lý Bửu-Tòa xây dựng chánh điện "Bát-Quái-Cung" tại San Jose, CA, từ cuối năm 1983 đến tháng 8-1984.

- Thánh-lịnh Cầu-Siêu (Rằm tháng 7) và Cầu-An (Rằm tháng 10) cho kịp kết thúc Long-Hoa Ðại-Hội Giáp-Tý niên (1984).

- Ðức Quan-Thế-Âm Bồ-Tát giáng tả quyển "Pháp-Bảo Tâm-Kinh" tháng 5-1986 (đă in hai lần, lần thứ hai vào năm 1998).

- Tu viện Bồ Đề (nơi Chưởng quản Bạch Diệu Hoa tịnh luyện) được h́nh thành theo thánh ư của Đức Chí Tôn. Trong thời gian hành giáo nơi đây, Chưởng quản Bạch Diệu Hoa tả thêm quyển "Pháp Bảo Tâm Kinh 2" và bộ "Quan Âm Tân Kinh" (gồm ba quyển Thượng, Trung, Hạ). Các bộ kinh này đă được Tu viện Bồ Đề ấn tống trước đây.

- Ðại-Lễ Cầu-An Đại Họa Thiên Tai 1993

- Từ đó đến nay Thiên Lư Bửu Ṭa vẫn tiếp tục nhiệm vụ của ḿnh do các Đấng Thiêng Liêng chỉ định.

- Trang nhà (website www.thienlybuutoa.org ) của Thiên Lư Bửu Ṭa với mục đích phổ thông Giáo Lư của Đại Đạo chính thức hoạt động vào ngày 15-8-2000 và được chỉnh trang lại toàn bộ vào ngày 28-6-2002.

- Khóa Hạnh Đường 2003 do Cao Đài Giáo Hải Ngoại tổ chức tại Thiên Lư Bửu Ṭa từ ngày 29-6-2003 đến ngày 5-7-2003.

- Tuần lễ tu học "T́m về Minh triết và Hội ngộ T́nh thương" được tổ chức từ ngày 29-8 đến ngày 4 tháng 9-2004.

- Chương tŕnh Phước Thiện bắt đầu hoạt động vào tháng 4-2005 nhằm mục đích xoa dịu phần nào những bất hạnh, đau khổ của các thương phế binh QLVNCH, các em thiếu nhi bệnh tật, mồ côi, và các người già yếu tàn tật.

Việc điều hành đạo sự và hành chánh do Hội Đồng Quản Trị (nhiệm kỳ 2 năm) đảm nhiệm.

Mặc dầu tuổi đă ngoại bát tuần, Chưởng quản Bạch Diệu Hoa vẫn là vị lănh đạo tinh thần của "Thiên Lư Bửu Ṭa" cho đến ngày Người quy liễu.