Trở lại trang chánh của Website Thiên Lư Bửu Ṭa
|
|
Xác định niên đại của Huỳnh Đ́nh Kinh [1]
* Rolf Homann
Trong các bản Huỳnh Đ́nh Kinh, chúng ta không thể nào t́m được thông tin về tác giả. Viên Đốn Tử 圓頓子 trong tác phẩm Huỳnh Đ́nh Kinh Giảng Nghĩa 黃庭經講義 của ông cũng nói như thế: «Huỳnh Đ́nh Kinh bất trứ soạn nhân danh thị cập thời đại.» 黃庭經不著撰人名氏及時代 (Huỳnh Đ́nh Kinh không ghi tên họ và thời đại của soạn giả). [2] Ngay từ đời Tống người ta cũng không biết ai là tác giả của Huỳnh Đ́nh Kinh. Âu Dương Tu viết: «Cả Nội Cảnh lẫn Ngoại Cảnh đều không nói về tên họ của tác giả Huỳnh Đ́nh Kinh.» [3] Chính một bản Huỳnh Đ́nh Kinh có từ đời sơ Đường mà Mễ Phất 米芾 nêu ra trong quyển Thư Sử 書史 (Lịch sử Thư pháp) của ông cũng không công bố tên họ của tác giả bộ kinh này. [4] Về sự khó khăn của việc xác định niên đại và tác giả của các thư tịch cổ Trung Quốc, Arthur Waley nói rằng: «Dân Trung Quốc cổ đại đă quen quan niệm rằng thư tịch là sách ghi chép về truyền thống [của họ]. Mục đích của họ là muốn bảo tồn những đồ vật cổ kính để chúng không bị người đời quên lăng. Hệ quả tất nhiên là những người ghi chép cần phải ghi chép những thư tịch đó với diện mạo là cổ tịch chứ không phải là sách tŕnh bày những ư tưởng của họ như là các phát kiến riêng tư và mới mẻ.» [5] Do đó, trong một vài tác phẩm viết về Huỳnh Đ́nh Kinh đă bảo kinh này có vào thời các vị đế vương trong truyền thuyết. Chẳng hạn như quyển Hỗn Nguyên Thánh Kỷ 混元聖紀 của Tạ Thủ Hạo 謝守灝 đời Tống viết rằng dưới đời vua Đế Khốc 帝嚳 (2435-2365) đă xảy ra sự kiện sau đây: «Lăo Quân 老君 giáng thế, cư ngụ tại Giang Tân 江濱, tự xưng là Lục Đồ Tử 錄圖子 […] Ngài giảng về những lời lẽ huyền diệu của Huỳnh Đ́nh.» [6] Đời Nguyên, Triệu Đạo Nhất 趙道一 trong tác phẩm Lịch Thế Chân Tiên Thể Đạo Thông Giám 歷世真仙體道通鑑 cũng viết tương tự: «Vào thời Đế Khốc, Lục Đồ Tử giáng trần tại Giang Tân. Ngài giảng Huỳnh Đ́nh Kinh để dạy đạo thanh tĩnh và ḥa đồng (thanh ḥa chi đạo 清和之道) […] Ngài truyền kinh này cho Đế Khốc. Cũng có nghĩa là ngài soạn 50 chương Huỳnh Đ́nh Kinh.» [7] Henri Maspero đă mô tả một h́nh thức khác của sự truyền bá đạo kinh với các kinh sách khác như sau: «Đức Thái Thượng đă giảng những kinh này cho các vị thần tối cao nghe, và chư thần này, đến lượt ḿnh, đă viết các lời kinh bằng chữ vàng trên các lá ngọc; đă giải thích các lời kinh này cho chư thần có ngôi vị thấp hơn họ. [...] Thỉnh thoảng, chư thần tối cao này c̣n giảng dạy những lời kinh ấy cho con người.» [8] Chúng ta cũng t́m thấy chỉ dẫn tương tự có liên hệ với Huỳnh Đ́nh Kinh. Đó là tác phẩm Huỳnh Đ́nh Kinh Giải 黃庭經解 của Lưu Nhất Minh 劉一明: «Huỳnh Đ́nh Kinh là bí văn của Đông Hoa Phù Tang Đế Quân 東華扶桑帝君. [9] Một tên khác của kinh này là Đại Đế Kim Thư 大帝金書. Gọi là Kim Thư v́ kinh được khắc trên thẻ bằng vàng (kim giản 金簡). Kinh c̣n có tên khác là Đông Hoa Ngọc Thiên 東華玉篇. Gọi là Ngọc Thiên v́ kinh cũng được khắc trên ngọc.» [10] Ngay từ đầu kinh của cả Nội Cảnh và Ngoại Cảnh đều khẳng định tác giả là một vị thần. Đầu Nội Cảnh viết: «Thượng Thanh Tử Hà Hư Hoàng tiền, Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân, nhàn cư Nhụy Châu tác thất ngôn.» 上清紫霞虛皇前, 太上大道玉晨君, 閑居蕊珠作七言 (Trước làn khí đỏ tía nguyên thủy hư vô nơi tầng trời Thượng Thanh, đức Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân nhân lúc thư nhàn nơi cung Nhụy Châu đă viết kinh bảy chữ.) [11]
Ngọc Thần Quân cũng là thần cư ngụ nơi Phổi (phế thần 肺神). [16] Huỳnh Đ́nh Ngoại Cảnh cho biết các tên hiệu khác nhau: Lăo Quân 老君, [17] Thái Thượng 太上, [18] Lăo Tử 老子. [19] Các nhà b́nh chú đều cho rằng Lăo Quân và Thái Thượng tức là Lăo Tử, do đó rốt cuộc tác giả của Huỳnh Đ́nh Kinh chính là Lăo Tử. Học giả Vương Minh 王明 cương quyết bác bỏ sự gán ghép Lăo Tử với Huỳnh Đ́nh Kinh. Ông cho rằng sự gán ghép này là một nhầm lẫn có từ đời Đường. Các vua đời Đường có cùng họ Lư với Lư Nhĩ 李耳 (tức Lăo Tử), do đó đă nhận Lư Nhĩ làm tổ tiên của ḿnh. [20] Tất cả những trích dẫn đến đây đều nhất trí tác giả của Huỳnh Đ́nh Kinh là thần tiên. Qua đó, lời chú của Viên Đốn Tử (trích dẫn nơi đầu chương này) được xác minh rằng chúng ta không thể nào t́m ra tác giả đích thực của Huỳnh Đ́nh Kinh. Một nhân vật có thật trong lịch sử có liên quan đến Huỳnh Đ́nh Kinh là Ngụy Hoa Tồn 魏華存 (252-334). Tuy nhiên Ngụy phu nhân được đề cập như là người tiếp nhận Huỳnh Đ́nh Kinh từ tay của thần tiên, chứ phu nhân không phải là tác giả của kinh này. Trong lời tựa của Nội Cảnh, Vụ Thành Tử viết: «Phù Tang Đế Quân mệnh Dương Cốc Thần Tiên Vương, [21] truyền Ngụy phu nhân.» 扶桑大帝君命暘谷神仙王傳魏夫人 (Phù Tang Đại Đế Quân ra lệnh cho Dương Cốc Thần Tiên Vương truyền [Nội Cảnh] kinh cho Ngụy phu nhân.)[22] Những chính sử về các triều đại Trung Quốc không ghi chép về tiểu sử Ngụy Hoa Tồn và tên tuổi của nhân vật này – theo sự tra cứu của tôi – đă không được đề cập ở đâu cả trong chính sử. Tuy nhiên, ngoài chính sử th́ có một tiểu sử về nhân vật này, đó là Nam Nhạc Ngụy Phu Nhân Truyện 南岳魏夫人傳 do Nhan Chân Khanh 顏真卿 [23] đời Đường viết. Dựa trên tiểu truyện này mà có đến 4 dị bản khác. [24] Nhiều nơi trong Đạo Tạng chúng ta cũng có thể t́m ra nhiều tiểu sử giản lược của Ngụy phu nhân. [25] Nhân vật Ngụy Hoa Tồn khiến người ta phải chú ư nhiều bởi v́ bà là sơ tổ của Mao Sơn Tông 茅山宗. [26] Tông phái này được mô tả tỉ mỉ trong chương 10 của Mao Sơn Chí 茅山志. Trong lịch sử truyền thừa của Mao Sơn Tông, đứng đầu có 7 vị thần mà 2 trong các vị này có liên quan đến Huỳnh Đ́nh Kinh (đó là Tử Thanh Thái Tố Cao Hư Động Diệu Tam Nguyên Đạo Quân 紫清太素高虛洞曜三元道君 và Cao Thánh Thái Chân Ngọc Thần Huyền Hoàng Đại Đạo Quân 高聖太真玉晨玄皇大道君). [27] Cho đến đời Nguyên, Ngụy Hoa Tồn và 44 đời tổ sư của tông phái này đă truyền dạy giáo lư của các bậc thần tiên nói trên. [28] Từ các tiểu sử của Ngụy phu nhân hiện có, tôi chỉ trích dẫn những sự kiện quan trọng nhất trong đời bà. Ngụy Hoa Tồn sinh năm 252 cn tại Nhậm Thành 任城. [29] Bà là con gái của Ngụy Thư 魏舒 (mất năm 290 cn). [30] Trên đường khoa hoạn, ông đă vươn lên một trong những quan chức cao nhất. [31] Ngụy Hoa Tồn tự là Hiền An 賢安, từ thuở hoa niên đă hâm mộ và nghiên cứu Lăo Trang. Bà sau đó cũng nghiên cứu kinh điển Nho giáo và các trường phái triết gia c̣n lại. Rồi bà chuyên tâm tu tập theo Đạo giáo và ước nguyện trở thành thần tiên. Bà tu theo phục thực: ăn phục linh 茯苓 và hồ ma 胡麻, [32] luyện đạo dẫn, thích ẩn dật. Năm bà 24 tuổi, bị cha mẹ ép buộc lấy chồng là Thái Bảo Lưu Văn 太保劉文 ở Nam Dương 南陽. [33] Bà sinh được hai con tên là Phác 璞 và Hà 瑕. Khi con khôn lớn, bà biệt cư để tĩnh tọa và chay tịnh. Sau ba tháng tu luyện, bà được nhiều thần tiên giáng hạ dạy đạo, truyền kinh và khẩu quyết. Trong những kinh đó có Huỳnh Đ́nh Nội Cảnh Kinh. «Cảnh Lâm Chân Nhân [34] truyền Huỳnh Đ́nh Nội Cảnh Kinh cho Ngụy phu nhân. Ngài ra lệnh cho bà phải đọc tụng kinh này cả ngày lẫn đêm. Khi đọc đủ một vạn lần, bà sẽ thấy được thần tiên; sẽ cảm thấy dễ chịu ở lục phủ, và có thể ḥa hợp được tam hồn. Ngũ tạng sẽ khang kiện và dung mạo sẽ tươi trẻ trở lại như hài nhi. Đó là đạo trường sinh bất tử.» [35] Ngụy phu nhân soạn phần b́nh chú cho Huỳnh Đ́nh Nội Cảnh Kinh. [36] Sau khi chồng qua đời, bà dời về Lạc Ấp 洛邑 (nay ở Hà Nam) và rồi đến bờ phía Nam sông Dương Tử. Mỗi khi gặp gian khó, bà đều được thần tiên phù hộ. Năm 334 cn, bà liễu đạo, đang lúc 83 tuổi. [37] Tương truyền, bà được thần tiên phong là Tử Hư Nguyên Quân 紫虛元君, Thượng Chân Tư Mệnh 上真司命, Nam Nhạc Phu Nhân 南岳夫人, xếp vào hàng tiên, cai quản núi Đại Hoắc Sơn 大霍山 trong rặng núi Thiên Thai 天台. Các kinh sách và khẩu quyết mà chư tiên truyền cho Ngụy phu nhân về sau đă đến tay của một đạo sĩ nổi tiếng là Dương Hi 楊羲 (330-386 cn). [38] Có hai thuyết về sự truyền thừa này. Một thuyết nói Ngụy phu nhân truyền các kinh này cho con cả là Lưu Phác, rồi ra lệnh cho Phác truyền cho Dương Hi. [39] Một thuyết th́ nói: «Nếu người ta t́m hiểu sự xuất hiện đầu tiên của Thượng Thanh chân kinh, [th́ sẽ thấy] sự truyền các kinh này bắt đầu từ năm Hưng Ninh thứ 2 đời Tấn Ai Đế (364 cn). Năm này, Nam Nhạc Phu Nhân (tức Tử Hư Nguyên Quân, Thượng Chân Tư Mệnh) giáng cơ truyền cho đệ tử là Dương Hi (làm xá nhân nơi công phủ của quan tư đồ của Lang Nha Vương 琅琊王.» [40] Thượng Thanh Chân Kinh được nêu ở đây có quan hệ mật thiết với Huỳnh Đ́nh Kinh. Trong Đạo Tạng Nguyên Lưu Khảo 道藏源流考 của Trần Quốc Phù viết: «Huỳnh Đ́nh Kinh giải thích các chư thần trong thân thể con người. Đây là căn bản các pháp trong Thượng Thanh Kinh.» (Huỳnh Đ́nh Kinh xiển thuật thân thần, vi Thượng Thanh Kinh pháp chi căn bản 黃庭經闡述身神為上清經法之根本). [41] Trong Huỳnh Đ́nh Kinh Khảo của Vương Minh, những kết quả có tầm quan trọng cho sự xuất hiện của Huỳnh Đ́nh Kinh được ông toát lược thành 4 điểm như sau: 1. Trong khoảng từ đời Ngụy đến đời Tấn, ai đó đă sở hữu riêng một bản viết tay tương tự như Huỳnh Đ́nh Kinh. 2. Ngụy Hoa Tồn sinh năm 253 cn. Khoảng năm 289 cn, bà nhận được Huỳnh Đ́nh Nội Cảnh Kinh. 3. Ngụy Hoa Tồn mất năm 334 cn, lúc 83 tuổi. Thời gian Huỳnh Đ́nh Ngoại Cảnh Kinh được sáng tác thật đáng nghi ngờ. 4. Trước tiên Ngụy Hoa Tồn nói về Huỳnh Đ́nh Nội Cảnh Kinh. Người con tên là Phác của bà đă truyền pháp cho Dương Hi. Năm 365 cn, Ngụy Hoa Tồn với tư cách thần tiên giáng hạ nơi bàn thờ nơi nhà của Dương Hi và giảng cho Dương Hi về cuốn kinh này. [42] Cho đến nay chưa ai rơ giữa Nội Cảnh và Ngoại Cảnh, kinh nào có trước. Maspero bảo Ngoại cảnh có trước; Vương Minh bảo Nội cảnh có trước. Nhưng tôi thấy hai thuyết này đều không có đủ chứng cứ vững chắc. [43] Có lẽ thứ tự trước sau của Nội Cảnh và Ngoại Cảnh không quan trọng bằng chính nội dung của chúng như Kaltenmark đă chỉ ra: «Dường như Nội Cảnh Kinh là kinh mà người ta tụng đọc và luyện tập theo lời dạy của kinh trong phạm vi nội bộ của Mao Sơn Tông, và dường như Ngoại Cảnh Kinh là để dành cho những người chưa nhập môn [tụng đọc].» [44] Liệt Tiên Truyện và Băo Phác Tử Nội Thiên không phân biệt Nội Cảnh và Ngoại Cảnh khi nhắc đến Huỳnh Đ́nh Kinh: – «… Lúc đó, ngài trao cho ông ta quyển Lăo Quân Huỳnh Đ́nh Kinh và bắt ông ta phải tụng mỗi ngày ba lần…» [45] – «… Ông ta ngày đêm tụng đọc những kinh điển như Huỳnh Đ́nh Kinh…» [46] Như thế, Cát Hồng chỉ nói đến Huỳnh Đ́nh Kinh trong danh mục các đạo thư, đề cập nơi Băo Phác Tử Nội Thiên.● [47]
CHÚ THÍCH [1] Dịch từ nguyên tác Đức ngữ: Datierung des Huang-t’ing ching, trích dịch từ Rolf Homann, Die wichtigsten Körpergottheiten im Huang-t’ing ching (Chư thần quan trọng nhất trong nhân thể theo Huỳnh Đ́nh Kinh), Verlag Alfred Kümmerle, Göppingen, Germany, 1971, tr.14-24. Chú thích riêng của người dịch được ghi là [LAM chú]. [2] Lư Lạc Cầu 李樂俅, Tiên Học Diệu Tuyển 仙學妙選, Đài Bắc, 1967, tr. 27. [LAM chú] Viên Đốn Tử là hiệu của dạo gia hiện đại Trần Anh Ninh 陳攖寧 (1880-1969). [3] Âu Dương Tu 歐陽修, Âu Dương Vĩnh Thúc Tập 歐陽永叔集, quyển 6, chương 1, tr. 60. [4] Mễ Phất (1051-1107) viết trong Thư Sử rằng Huỳnh Đ́nh Kinh là tác phẩm có từ thời Lục Triều 六朝 (222-587). Ngoài ra, Mễ Phất c̣n mô tả tỉ mỉ bản Huỳnh Đ́nh Kinh mà ông có và nghiên cứu lịch sử truyền bá kinh này. [LAM chú] Chữ 芾 trong 米芾 thường phiên âm là phế, phí, phất. Ở đây tôi đọc Mễ Phất, căn cứ Tân Hoa Tự Điển, Thương Vụ Ấn Thư Quán, Bắc Kinh, 2000, tr. 182, phiên 芾 là /fú/ và giảng: (1) Thảo mộc mậu thịnh 草木茂盛: cây cỏ sum xuê tươi tốt. (2) Đồng phất, Tống đại thư họa gia Mễ Phất, dă tác Mễ Phất 同黻 /fú/. 宋代書畫家米芾亦作米黻 /Mǐ Fú/: đồng với chữ phất, thư họa gia đời Tống Mễ Phất, cũng viết là Mễ Phất. (3) Cũng đọc là /fèi/. [5] Arthur Waley, The Life and its Power, London, 1965, p. 102. [LAM chú]: Hiện tượng này hết sức phổ biến trong các cổ tịch, nhất là đạo kinh. Thông thường một đạo sĩ nào đó viết ra một quyển sách, và để tăng trọng lượng cho tác phẩm cũng như để người đời trân trọng và tụng niệm, đạo sĩ đă mượn danh một thần tiên nào đó làm tác giả. [6] Đạo Tạng 道藏 551/W762, chương 1, tr. 10b/11a. [7] Đạo Tạng 道藏 139/W293, chương 2, tr. 3b/4a. [LAM chú] Rolf Homann dịch thanh ḥa chi đạo là der Weg des reinen Friedens (đạo thanh b́nh) nhưng ư chỉ giảng dạy của Lăo Tử là Thanh tĩnh vô vi 清靜無為 và Ḥa kỳ quang đồng kỳ trần 和其光同其塵, v́ thế tôi dịch là đạo thanh tĩnh và ḥa đồng. Một chi tiết khác: không rơ bản Huỳnh Đ́nh Kinh nào lại có đến 50 chương? Thông thường Nội Cảnh có 36 chương và Ngoại Cảnh có 3 bộ (thượng, trung, hạ), c̣n toàn văn của Trung Cảnh không phân chia thành các chương. [8] Henri Maspero, Les dieux taoistes; comment on communique avec eux; đăng trong Academie des Inscriptions et Belles Lettres – Comptes rendus des séances de l’Année 1937, Paris 1937, p. 368. (Ces Livres, le Vénérable céleste les a récités aux dieux les plus hauts, et ceux-ci, à leur tour, les ont écrits en caractères d'or sur des feuilles de jade; ils les ont expliqués aux dieux qui sont audessous d'eux, ... De temps en temps, les dieux les enseignent aux hommes.) [9] Thuật ngữ Đông Hoa được giải thích như là sự mô tả các cung thuộc hướng đông (xem Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 1, tập 9, tr. 21: Đông Hoa chư phương chư cung danh 東華諸方諸宮名). Ở đây ta có thể dựa vào Richard Wilhelm để dịch thuật ngữ Đông Hoa (xem Richard Wilhelm, Dschuang-dsi Das Wahre Buch vom Südlichen Blütenland: Trang Tử Nam Hoa Chân Kinh, Jena 1920). Cây phù tang là loại cây huyền thoại, ở hướng đông. Trong các kinh văn thời Lục Triều, phù tang tượng trưng cho vùng đất huyền thoại ở hướng đông. Vị thần cai quản nơi đây là Đông Hoa Đế Quân (xem K. M. Schipper, L’Empereur Wou des Han dans la légende taoiste, Paris, 1965, tr. 69, 81). [LAM chú] Vấn đề phù tang được tranh luận đă lâu nhưng vẫn chưa thấu đáo. Cách giảng của Wilhelm chỉ là một thuyết khá phổ biến.) [10] Đạo Tạng Tinh Hoa 道藏精華, bộ 4, tập 7, tr. 1. (Huỳnh Đ́nh Kinh giả, Đông Hoa Phù Tang Đế Quân chi bí văn dă. Nhất danh Đại Đế Kim Thư dĩ kỳ khắc ư kim giản. Nhất danh Đông Hoa Ngọc Thiên dĩ kỳ khắc ư ngọc. 黃庭經者, 東華扶桑帝君之秘文也. 一名大帝金書以其刻於金簡. 一名玉篇以其刻於玉) [LAM chú] Homann không chép nguyên văn chữ Hán. Tôi tra lại câu trên trong Huỳnh Đ́nh Kinh Giải của Lưu Nhất Minh trong bộ Đạo Thư Thập Nhị Chủng 道書十二種 và chép lại nơi đây. Vụ Thành Tử 務成子 cũng giải thích tương tự trong Đạo Tạng Tinh Hoa 道藏精華, bộ 1, tập 9, tr. 21: Đông Hoa chư phương chư cung danh 東華諸方諸宮名. Một tên khác nữa của Nội Cảnh được nhắc đến nơi đây là: Thái Thượng Cầm Tâm Văn 太上琴心文. [11] Đại Hán Ḥa Từ Điển 大漢和辭典 của Tetsuji Morohashi, 31339/8, có ghi chú về một nơi chốn được chép trong quyển Hải Nội Thập Châu Kư 海內十洲記 của Tung fang-shuo (Đông Phương Sóc 東方朔 ?) mà ngày nay kinh văn này không thể t́m được. Đó là Ngọc Thần Đại Đạo trị Nhụy Châu bối khuyết 玉晨大道君治蕊珠貝闕 (đức Ngọc Thần Đại Đạo cai trị nơi cung bối khuyết Nhụy Châu). Trong Sở Từ 楚辭 có câu: «Tử bối khuyết nhi ngọc đường.» 紫貝闕而玉堂 (cửa khuyết đỏ tía chạm vỏ ṣ và điện ngọc) (xem Tứ Bộ Bị Yếu 四部備要 503, chương 16, tr. 4a) D. Hawkes, Ch’u Tz’u, the Songs of the South, Oxford 1959, p. 153, đă dịch sai là: «My tower of spotted shells, my hall of jade.» (Tháp vỏ ṣ có đốm và điện ngọc của ta.) [LAM chú] Khuyết là hai cái lầu ở trước cửa cung điện, giữa hai cái lầu này là lối đi vào cung điện. Khuyết (cũng gọi là song khuyết 雙闕) giống như cửa để trống. Về sau, khuyết cũng phiếm chỉ cung điện, hoàng cung hay cửa hoàng cung. Người ta thường dịch là cửa khuyết. Bối 貝 (vỏ ṣ) ngày xưa là vật quư, dùng làm tiền; nên bối khuyết có thể là một cách nói ví von bày tỏ sự cao sang của cung điện, chưa chắc đó là cửa cẩn chạm vỏ ṣ. [12] Đạo Tạng Tinh Hoa 道藏精華, bộ 1, tập 9, tr. 31. (Thái Thanh Huỳnh Đ́nh Nội Cảnh Kinh) [LAM chú] Vụ Thành Tử chú về tên hiệu Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân như sau: «Thái Thượng tức là Cao Thánh Thái Chân Ngọc Thần Huyền Hoàng Đại Đạo Quân.» C̣n Hư Hoàng là nội hiệu của Tử Thanh Thái Tố Cao Hư Động Diệu Tam Nguyên Đạo Quân. Như vậy Homann đă nhầm khi bảo rằng Thái Thượng Đại Đạo Ngọc Thần Quân là tên ghép của hai tên khác. Lời chú của Vụ Thành Tử đâu có nói như vậy. (Nguyên văn: Hư Hoàng giả, Tử Thanh Thái Tố Cao Hư Động Diệu Tam Nguyên Đạo Quân nội hiệu dă. Thái Thượng, tức Cao Thánh Thái Chân Ngọc Thần Huyền Hoàng Đại Đạo Quân dă: 虛皇者,紫清太素高虛洞曜三元道君內號也.太上,即高聖太真玉晨玄皇大道君也; xem: Huỳnh Đ́nh Kinh, Thượng Hải Cổ Tịch xbx, 1990, tr. 25). Mục Lân 睦麟 chú rằng: Hư Hoàng là bản hiệu của thần Nguyên Thủy Hư Vô 元始虛無之神; Ngọc Thần Quân 玉宸君 (theo Vân Cấp Thất Thiêm 雲笈七籤, chữ 宸viết là 晨) là danh hiệu của Thái Thượng Đại Đạo Quân. (Trung Quốc Khí Công Tứ Đại Kinh Điển 中國氣功四大經典, Giang Tây Cổ Tịch xbx, 1999, tr. 227) [13] Đạo Tạng 73/W164, Động Huyền Linh Bảo Chân Linh Vị Nghiệp Đồ 洞玄靈寶真靈位業圖. [14] Đạo Tạng 154/W301, Mao Sơn Chí 茅山志 chương 10, tr. 1b/2a. [15] Đạo Tạng Tinh Hoa 道藏精華, bộ 3, tập 5, tr. 13. (Huỳnh Đ́nh Kinh Bí Nghĩa 黃庭經秘義). Lănh Khiêm đời Tống b́nh chú Huỳnh Đ́nh Nội Cảnh Kinh. Bản b́nh chú này về sau được Cung Khánh Vinh 龔慶榮 hiệu đính và xuất bản năm 1928. [16] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 7, tập 4, tr. 590. (Vân Cấp Thất Thiêm 雲笈七籤). [17] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 1, tập 9, tr. 85. (Thái Thượng Huỳnh Đ́nh Ngoại Cảnh Kinh) [18] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 1, tập 9, tr. 71. (Thái Thượng Huỳnh Đ́nh Ngoại Cảnh Kinh) [19] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 3, tập 10, chương 1, tr. 1. (Huỳnh Đ́nh Kinh Chú 黃庭經注 của Thạch Ḥa Dương 石和陽 đời Minh) [LAM chú] Câu đầu tiên của Ngoại Cảnh là: «Lăo Quân nhàn cư tác thất ngôn, giải thuyết thân h́nh cập chư thần.» 老君閑居作七言解說身形及諸神 (Lăo Quân lúc thư nhàn sáng tác các câu thơ bảy chữ để giải thích về thân h́nh con người và chư thần trong đó.) Vụ Thành Tử chú: Lăo Tử là tinh hồn của trời, là đấng tự nhiên, tạo lập thần tiên, thường tồn muôn đời; viết thơ bảy chữ để dạy người đời sau. (Nguyên văn: Lăo Tử giả, thiên chi tinh hồn, tự nhiên chi quân. Tạo lập thần tiên, vạn thế thường tồn. Tác tư thất ngôn dĩ thị hậu sinh. 老子者, 天之精魂. 造立神仙, 萬世常存. 作斯七言以示後生) (Huỳnh Đ́nh Kinh, Thượng Hải Cổ Tịch xbx, 1990, tr. 1). [20] Vương Minh 王明, Huỳnh Đ́nh Kinh Khảo 黃庭經考, in trong Lịch Sử Ngữ Ngôn Nghiên Cứu Sở Tập San 歷史語言研究所集刊, Vol. XX, 1948. [LAM chú] Nhiều người ngộ nhận rằng Phật giáo cực thịnh vào đời Đường v́ các sự kiện như Huyền Trang thỉnh kinh và sự phiên dịch kinh Phật đại qui mô, v.v... Nhưng thật sự chính Đạo giáo mới là cực thịnh. [21] Theo quan niệm của Trung Quốc, mặt trời xuất hiện từ Dương Cốc. Trong Hoài Nam Tử 淮南子 (in trong Tứ Bộ Bị Yếu 四部備要 424, chương 3, tr. 9b) viết: «Nhật xuất vu Dương Cốc, dục vu Hàm Tŕ, phất vu Phù Tang thị vị thần minh.» 日出于暘谷浴于咸池拂于扶桑是謂晨明 Maspero dịch là: «Mặt trời ra khỏi Dương Cốc, tắm nơi ao Hàm. Khi mặt trời chạm đến Phù Tang, ấy là lúc rạng đông.» (Le soleil sort de Yang-kou et se baigne à l’étang Hien. Quand il touche au fou-sang, c’est l’aube.) (Henri Maspero, Legendes Mythologiques dans le Chou King; in trong Journal Asiatique CCIV, Janvier-Mars, Paris, 1924, p. 17) [22] Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 1, tập 9, tr. 21 (Thái Thượng Huỳnh Đ́nh Nội Cảnh Kinh) và Đạo Tạng Tinh Hoa, bộ 3, tập 5, tr. 3 (Huỳnh Đ́nh Kinh Bí Nghĩa). Ngụy phu nhân tức là Ngụy Hoa Tồn. [23] Tùng Thư Tập Thành 叢書集成 3435, (Cố Thị Văn Pḥng Tiểu Thuyết 顧氏文房小說, tập 2). [LAM chú] Chưa rơ Cố thị 顧氏 (người họ Cố) là ai, không phải là viết nhầm từ Nhan thị 顏氏, bởi v́ Trần Quốc Phù cũng trích dẫn tựa sách này trong quyển Đạo Giáo Nguyên Lưu Khảo (tập thượng, tr. 31) của ông. Nhan Chân Khanh (709-785) tự là Thanh Thần 清臣, người đời gọi là Nhan Lỗ Công 顏魯公, quê ở Vạn Niên 萬年 thuộc Kinh Triệu 京兆 đời Đường (nay là Tây An 西安 thuộc Thiểm Tây 陝西). Ông là cháu đời thứ 5 của Nhan Sư Cổ 顏師古. Thuở nhỏ nhà nghèo, nên sự học của ông đều do mẹ dạy. Ông bác thông kinh sử, thờ cha mẹ chí hiếu. Nhan Chân Khanh phần nhiều được biết đến như một đại thư pháp gia hơn là một nhà luyện đan. Thư pháp ông học nơi Chử Toại Lương 褚遂良, về sau noi theo bút pháp của Trương Húc 張旭. Chữ Khải của ông (gọi là Nhan thể 顏體) đoan trang mộc mạc và mạnh mẽ, nổi tiếng như Liễu Công Quyền 柳公權qua câu nói của người đời ví von truyền tụng «Nhan cân Liễu cốt» 顏筋柳骨 (chữ Nhan Chân Khanh như gân, chữ Liễu Công Quyền như xương). Kể từ đời Đường, chữ Khải trở thành một thư thể hoàn chỉnh với các đại thư gia như Liễu Công Quyền, Nhan Chân Khanh, Âu Dương Tuân 歐陽詢. Đời Nguyên có thêm Triệu Mạnh Phủ 趙孟頫. Họ tạo thành bốn phong cách khải thư (Liễu thể, Nhan thể, Âu thể, Triệu thể) được xem là mô phạm khải thư cho thế nhân nghiên tập từ đời Đường tới ngày nay. Liễu thể cứng cỏi quật cường, Nhan thể mộc mạc mạnh mẽ, Aâu thể thanh tú trang nghiêm, Triệu thể yểu điệu kiều lệ. Nhan Chân Khanh đỗ tiến sĩ năm Khai Nguyên, từng làm quan giám sát ngự sử. Ông cũng là nhà luyện đan như Tô Đông Pha, Lư Bạch, Triệu Mạnh Phủ, v.v. Tương truyền sau khi ông mất, người ta thấy ông trên núi La Phù Sơn 羅浮山. Bạch Ngọc Thiềm 白玉蟾 (khai sáng Kim Đan Phái của Nam Tông, tức Tử Dương Phái) đời Tống nói Nhan Chân Khanh căn kiếp là Bắc Cực Khu Tà Viện Phán Quan 北極驅邪院判官. Ngoài các tác phẩm thư pháp, tác phẩm văn chương của ông có Nhan Lỗ Công Văn Tập 顏魯公文集. (tham khảo: Ngô Phong, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển, Nam Hải xuất bản công ty, 1994, tr. 944) [24] Các dị bản này in trong: Thái B́nh Quảng Kư 太平廣記, chương 58; Kư sử Thông Giám 記史通鑑, chương 22; Khâm Định Toàn Đường Văn 欽定全唐文, chương 340, 4366ff; và Thái B́nh Ngự Lăm 太平御覽, chương 678 (tiểu sử thật ngắn gọn). [25] Đạo Tạng 75/W168, tr. 7a; Đạo Tạng 150/W295, ch. 3, tr. 7a; |