|
VÔ
NGUYỆN BẤT THÀNH PHẬT DỮ TIÊN
THANH
MAI
Tu hành
có lập nguyện th́ tu mới mau tiến. Có câu:
“Vô nguyện bất thành Phật dữ Tiên”, nghĩa
là người không lập nguyện th́ chẳng thành
Phật Tiên.
Vậy chúng ta hăy thử t́m hiểu lư do v́ sao người
tu cần phải lập nguyện. Có thể nêu lên
hai lư do: một lư do mang tính khách quan, và một lư
do mang tính chủ quan.
1. LƯ DO KHÁCH QUAN
Thực sự th́ câu này có hai vế:
(1) “Vô nguyện bất thành Phật dữ Tiên”;
(2) “Phật Tiên vô nguyện bất điều
hiền”.
Không biết hai câu này được ghi trong
quyển kinh nào, chỉ biết trong quyển “Tứ
Đại Điều Quy giảng nghĩa”,
phần giảng nghĩa điều quy thứ
nhất, Đạo trưởng Nguyễn Minh
Thiện đă ghi như sau:
“Thử xem các vị
Phật Tiên thuở trước có ai không nhờ
thệ nguyện mà đặng thành chăng? Cho nên
người tu trước phải thệ nguyện làm
tin, rồi sau mới vững ḷng mà hành Đạo.
Trong
kinh có câu: “Vô nguyện bất thành Phật dữ
Tiên, Phật Tiên vô nguyện bất điều
hiền”, nghĩa là: người không lập
nguyện chẳng thành Phật tiên, c̣n Phật Tiên
cũng chẳng độ người không lập
nguyện. Lời này đủ chứng sự
thệ nguyện là quư trọng dường nào!”
Vậy,
nếu tu mà không lập nguyện th́ sẽ không
nhận được sự hộ tŕ của các
Đấng Thiêng Liêng. Đây là lư do thứ
nhất, lư do khách quan, từ bên ngoài, từ tha
lực ảnh hưởng đến kết quả
tu hành của chúng ta.
Thánh
Ngôn Hiệp Tuyển, Quyển I có ghi lời Đức
Chí Tôn dạy chư vị Tiền Khai từ trước
khi Khai Đạo như sau:
“Quỷ
vương đến trước Bạch Ngọc
Kinh xin hành xác và thử thách các con. Thầy
chẳng chịu cho hành xác, chúng nó hiệp tam
thập lục động toan hại các con, nhưng
phần đông chưa lập minh thệ, nên chư
Thần Thánh, Tiên Phật không muốn nh́n
nhận.” (29-6 Bính Dần, 07-8-1926).
Năm
1934, Đức Diêu Tŕ Kim Mẫu Vô Cực Từ Tôn
lập Nữ Chung Ḥa Phái, Đức Mẹ cũng
buộc các vị nào ghi tên vào bảng Nữ Chung Ḥa
phái đều phải lập minh thệ và Đức
Lê Sơn Thánh Mẫu đă giải thích ư nghĩa
của việc lập minh thệ như sau:
“Luôn
đây Mẹ giải nghĩa việc minh thệ cho các
con rơ: “Nữ Chung Ḥa Phái tuy là Tây Cung Kim Mẫu
ban luật lệ, nhưng có công đồng cả
Phật Tiên, Thánh Thần, vậy mỗi con có tên vào
bảng th́ phải có lập minh thệ mới đúng
với luật Đạo. C̣n các con có tên vào
bảng mà không có lời minh thệ, tức nhiên
Phật Tiên, Thánh Thần không chứng chiếu cho vào
bảng. Vậy các con phải tuân theo, chớ
rằng minh thệ là bó buộc. Mẹ phân cho các
con rơ: bó buộc như thế cũng nên tuân theo, v́
bó buộc cho xa điều dữ, xa điều
tục thế, xa cơi khổ năo này, bó buộc như
thế có sự chơn lư chăng?”
Pháp sư Trần Huyền Trang vào đời nhà Đường bên Trung Hoa khi phát
nguyện sang Tây Trúc thỉnh kinh Đại Thừa
Phật pháp Tam tạng, Ngài cũng đă lập
nguyện rằng nếu không sang tới nơi, không
lấy được chân kinh th́ sẽ không trở
về và măi măi chịu đắm ch́m nơi địa
ngục.
Nhờ có ḷng quyết tâm và lời đại
nguyện như vậy nên trên đường đi
thỉnh kinh mặc dù phải trải qua 108 khổ
nạn, Ngài luôn luôn nhận được sự
hộ tŕ và cứu giúp của chư Phật Tiên,
Thánh Thần. Trong kiếp nạn thứ nhất, khi
bị sa xuống sào huyệt của bọn hổ
gấu thành tinh sắp bị ăn thịt th́
được Đức Thái Bạch Kim Tinh giáng
trần giải cứu. Truyện Tây Du Kư kể
rằng sau khi giải cứu cho Ngài Đường
Tam Tạng, Đức Thái Bạch Kim Tinh đă hóa
thành làn gió mát, cưỡi một con hạc
trắng mào đỏ, bay lên không trung, chỉ
thấy một tờ thiếp phấp phới bay
xuống, trên viết bốn câu tụng rằng:
Ta, sao Thái Bạch, Tây
Phương,
Cứu người nên
phải t́m đường xuống đây.
Đường đi
Thần giúp đêm ngày,
Chớ v́ sóng cả
rời tay buông chèo.
Ngoài ra, chúng ta c̣n thấy rằng các Đấng
Thần Thánh, Tiên Phật mặc dù đă đắc
quả vị nhưng vẫn tiếp tục lập
đại nguyện cứu khổ cứu nạn chúng
sanh.
Đức Phật A Di Đà
có 48 lời đại nguyện mà quan trọng
nhất là hai đại nguyện một và hai.
Lời nguyện thứ nhất là: Lúc tôi thành
Phật, nếu trong cơi nước tôi có địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh th́ tôi không ở ngôi
chánh giác.
Lời nguyện thứ hai là: Lúc tôi thành
Phật, nếu hàng nhơn thiên trong cơi nước
tôi, sau khi thọ chung, c̣n trở lại sa vào ba
đường ác đạo th́ tôi không ở ngôi
chánh giác.
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
có 12 lời đại nguyện. Có thể kể ra
một số lời đại nguyện của Ngài
như:
- Nguyện rằng chúng sanh ở cơi ta bà hay cơi u
minh mà có lời cầu nguyện Ngài th́ Ngài sẽ
đến nơi để tận độ.
- Nguyện ngày đêm tuần du khắp chốn,
đến cả cơi địa ngục, ngạ
quỷ, súc sanh để độ rỗi chúng sanh
khỏi ṿng tổn hại.
- Nguyện tự tay cầm phướn tràng phan và
bảo cái để tiếp dẫn hồn kẻ
từ trần đến cơi Tây phương cực
lạc.
Đến Tam Kỳ Phổ Độ, khi Đức
Chí Tôn rời Bạch Ngọc Kinh xuống trần
lập đạo Cao Đài, Thầy cũng
lập đại nguyện. Lời của
Thầy như sau:
“Sao mà đời không
chịu gia tâm suy nghĩ, để đặng
tầm thiên cơ cầu diệu lư mà luyện
kỷ, hầu quày trở lại chỗ nguyên
thỉ cựu ngôi.
Để làm chi cứ
mang lấy nạn khổ măi luân hồi, Thầy ḍm
thấy luống chua xót đứng ngồi không yên
dạ.
Nên hội Tam Giáo Công
Đồng, Thầy lập tờ đoan thệ,
đem Đạo mầu phổ hóa độ
tất cả đám quần sanh.
Nếu các con chẳng
chịu tu hành, không bỏ dữ làm lành, Đạo
không thành, Thầy nguyện không trở về ngôi
vị cũ.”
Một lần khác, Thầy lại dạy:
Muôn kiếp các con
chịu lạc đường,
Thấy vầy Thầy
luống động ḷng thương,
Nên đoan thệ
với hàng Tiên Phật,
Lập Đạo không thành chịu tội ương.
Như
vậy, chúng ta thấy rằng, ngay cả các Đấng
Phật Tiên và thậm chí Đức Chí Tôn là Đấng
Chúa tể càn khôn vũ trụ mà c̣n lập đại
nguyện th́ lẽ nào người tu chúng ta muốn
hoàn thành sứ mạng, đắc thành đạo
quả lại không lập nguyện.
2. LƯ DO THỨ HAI
Việc cần thiết phải lập nguyện mang
tính chủ quan, xuất phát từ ư thức tự
nguyện của hành giả. Chúng ta thử khảo sát
một số lời nguyện sau đây:
- Lời minh thệ nhập môn: “Con
tên là: . . . Tuổi: . . . từ nay biết một
Đức Cao Đài Ngọc Đế, chẳng
đổi dạ đổi ḷng, hiệp cùng chư
môn đệ ǵn luật lệ Cao Đài, như sau
có ḷng hai th́ Thiên tru địa lục.”
- Lời thề của môn sinh đạo Minh Sư:
“Nhược hữu nhị tâm, song nhăn lạc địa,
Thân hóa nung huyết, Thiên khiển lôi tru.”
- Lời thề của đệ tử phái Chiếu
Minh: “Nếu con không giữ lời nguyền, Ngàn năm trâu
ngựa để đời làm gương.”
Qua khảo sát một số các lời nguyện trên
đây, chúng ta thấy lời nguyện nào cũng có
phần chế tài rất nghiêm khắc. Do đó, người
tu một khi đă lập nguyện rồi th́ cũng
chẳng khác nào người tử tù trong câu
chuyện sau đây:
Một người tử tù được nhà vua
ban đặc ân: Nếu bưng một chén rượu
rót đầy tới miệng chén đi ba ṿng
giữa các mỹ nữ đang khiêu vũ trong
tiếng nhạc bổng trầm réo rắt mà không làm
sớt một giọt nào ra ngoài th́ sẽ được
tha tội chết. Để được thoát
chết, người tử tù chỉ c̣n một cách
duy nhất, đó là tập trung hết tinh thần vào
việc giữ cho chén rượu không bị sớt
ra một giọt nào.
Người
tu hành một khi đă lập nguyện th́ cũng
chẳng khác nào người tử tù trong câu
chuyện vừa kể: giữa muôn ngàn cạm
bẫy cám dỗ của cơi thế gian, người
tu muốn giữ tṛn lời thệ nguyện th́ cũng
phải tập trung hết tinh thần vào việc tu
công luyện kỷ không được một giây
phút nào xao lăng.
Do
đó lời nguyện có tác dụng thúc đẩy
người hành giả phải chuyên tâm tŕ chí trên
con đường Đại Đạo, chỉ có
tiến chứ không thể bước lui, v́ với
lời thệ nguyện, lui cũng đồng nghĩa
với chết, không phải chỉ chết thân xác
một kiếp này mà chết về phần tâm linh
ngàn năm muôn kiếp đọa đày bất năng
thoát tục.
Điều này cũng khiến chúng ta nhớ tới
h́nh ảnh con ngựa kéo xe bị bịt cả hai
mắt nên không thể nh́n qua nh́n lại cảnh
vật hai bên đường mà chỉ c̣n biết
thẳng một đường tiến lên phía trước.
Ngược lại, nếu không lập nguyện th́
hành giả dễ bị mắc phải chứng
bệnh dăi đăi, biếng lười nên tu hành không
tinh tấn.
Ngày nay, trong đạo Cao Đài, khi cầu xin
tiến đạo lên bậc sơ thiền tiến
đạo nội công hấp khí, người
tịnh sĩ cũng phải lập thệ:
Nguyện giữ trường trai tuyệt dục,
nếu phạm thệ th́ sẽ bị đọa tam
đồ bất năng thoát tục.
Đức Bát Nương đă giảng giải
về h́nh phạt đọa tam đồ bất năng
thoát tục dành cho người phạm thiền
thệ như sau:
“Thảng như bị
đọa tam đồ bất năng thoát tục th́
chơn linh bị ngăn cản không được
hiệp với chơn thần, làm cho đệ
nhị xác thân (chơn thần) phải trở
lại chuyển kiếp từ bực kim thạch cho
đến làm người, và phải chuyển
kiếp trở lại đủ ba ṿng mới
được khởi lập công lại.
- Có phải ba ṿng đều
trở lại từ bực kim thạch không?
- Phải vậy.
- Một ṿng cũng
đủ giác ngộ rồi cần ǵ ba ṿng?
- Bởi phạm thệ
của Thiền điều chớ không phải
phạm tội.”
Và cũng do lời nguyện hệ trọng như
thế nên Ơn Trên thường từ bi lưu ư
chúng ta hăy suy nghĩ cẩn thận trước khi
lập nguyện, nhất là khi người hành
giả muốn bước vào con đường
đại thừa thiên đạo. Đức Đông
Phương Chưởng Quản đă dạy như
sau:
“Ngày xưa, nếu
một ai muốn t́m đạo trường sanh siêu
thoát phải dày công nhọc sức để
kiếm t́m minh sư, và phải minh thệ một cách
thiết thực, gọi là đại hồng
thệ mới được khẩu khẩu tương
truyền. Ấy thế mà cũng vẫn có người
phạm hồng thệ để đọa tam
đồ bất năng thoát tục.
Ngày nay, thời kỳ
đại ân xá, chư đệ muội được
bước vào cửa pháp môn, không có một điều
kiện ràng buộc khó khăn như khi xưa, nhưng
Bần Đạo khuyên chư hiền đệ
hiền muội đừng xem đó là tầm thường
mà dễ lờn. Không phải có đại hồng
thệ mới có sự trừng phạt của Thiên
luật, c̣n không đại hồng thệ lại
được tự do. Càng không bắt buộc
lại càng có nhiều h́nh phạt cận kề
đúng theo luật Thiên điều trong đại
ân xá này đó chư hiền đệ.
Vậy nơi đây, chư
hiền đệ nào muốn phát tâm vào trường
chơn đạo hăy tự vấn lấy ḷng ḿnh
cho kỹ lưỡng rồi sẽ bước đến.
Đức từ bi tận độ luôn luôn phổ
cập chúng sanh, chỉ ngại chúng sanh khinh thường
mà đắc tội vậy.”
Tóm
lại, khi lập nguyện người tu sẽ
nhận được sự trợ lực từ
hai phía:
-
từ tha lực, chính là sự hộ tŕ của các
Đấng Thiêng liêng, và
-
từ nội lực, tức là sự nỗ lực
của tự thân hành giả để giữ
trọn lời nguyện ước với Ơn Trên,
có như thế th́ việc tu hành mới ngày càng
tinh tấn.
Thiển
nghĩ, mỗi hành giả trên bước đường
tu học và hành đạo cũng cần nên ghi
nhớ lời dạy của Đức Hà Tiên Cô như
sau:
Tẩy
tâm thanh tịnh trọn ḷng,
Chí
thành lập nguyện, ân hồng bố ban.
THANH
MAI
|