Thi
rằng:
THIÊN
phúc truyền thông khắp địa cầu,
CHÚA
Thánh trị đời chúng lạc âu,
GIÊ-SU
giáo luyện bình ngôi Chúa,
Ðấng
CHRIST qui điều khải Á, Âu.
Thi
bài:
Bài tiếp điển bút cơ Quan-Thánh,
Giáo luyện cùng đức tánh bực
Vua,
Vua là chúa tể quốc gia,
Là
ngôi vương tước sơn hà một tay.
Vua là bực anh tài chí thánh,
Vua anh minh nước mạnh dân giàu,
Vua lành yêu nước một màu,
Vua
minh văn võ nội trào kỉnh tôn.
Vua thánh-quân quần thần học
mẫu,
Vua đức tài gồm đủ mười
phân,
Vua mà yêu nước thương dân,
Vua
còn trách nhiệm biên cương dấy loàn.
Sáu mối giềng đa đoan nắm giữ,
Gánh sơn hà xã tắc đôi vai,
Núi sông nắm một bàn tay,
Liệu
gìn cho chặt đức tài đáng Vua.
Tài với đức thi đua cân xứng,
Chiếc ngai vàng mới vững trăm
năm,
Ðừng cho sái bước lạc lầm,
Vua
đừng bạo chúa thần dân rối loàn.
Dân rối loàn nước tràn đê
vỡ,
Nhớ đời Tần muôn thuở còn
lưu,
Vẻ chi một bức tranh chiều,
Cho
đời bạo chúa thiu thiu giấc vàng.
Chúa bạo tàn giàu sang bốn
biển,
Thói bạo tàn nhung nhuyễn tham
lam,
Tận thâu lục quốc bạo cường,
Túi
tham không đáy khó lường đầy vơi.
Chứa trăm kho vàng mười ngọc
báu,
Hầu trăm ngàn ả đẹp nội
cung,
Lòng còn muốn trọn thỉ chung,
Muốn
cho trường thọ sống muôn tuổi đời.
Kẻ tham tâm lòng Trời khó
giúp,
Thác cũng còn tham dụng cho
đời,
Mả vua đính ngọc vàng mười,
Xây
thành đắp lũy dụng thời tay dân.
Giọt mồ hôi oán hờn trăm
họ,
Nhuộm máu hồng vì chúa bạo
tàn,
Ngỡ rằng mồ mả quân vương,
Ngọc
ngà đáy huyệt nắm xương đặng nhờ.
Nào ngờ sau mả mồ tan vỡ,
Bị xới đào vì của mang theo,
Muốn cho vĩnh trị trăm đời,
Bắt
dân vô tội đắp xây lũy thành.
Vạn-Lý Thành nhọc nhành tân
khổ,
Kể xiết chi tắm máu mồ hôi,
Biết bao sanh mạng dân Trời,
Vì
thành Vạn-Lý xương phơi chập chồng.
Thành không chắc, lòng dân mới
chắc,
Ðức mới là lũy sắt thành
đồng,
Làm vua chưởng đức trị dân,
Vua
đừng bạo chúa quần thần loạn quan.
Chúa mà bạo các quan ảnh hưởng,
Quân lính đồng xu hướng hại
dân,
Làm cho tổ-quốc ngửa nghiêng,
Nhà
hư, nước mất, đảo huyền sanh linh.
Chúa đức lành sử xanh lưu
tiếng,
Ðời Thuấn Nghiêu kinh quyện
còn vang,
Tiếng nhơ là tiếng Trụ-Vương,
Ngàn
năm bia miệng hổ thầm cho vua!
Dầu bực vua phải vùa đạo
đức,
Phải noi gương các bực cổ
hiền,
Mới là chơn chúa trị yên,
Mới
là phải mặt đức hiền Thánh-vương.
Chúa phải tu cho đường nhơn-đạo,
Vua phải tròn thiện bảo đức
tài,
Biết yêu tổ-quốc nhơn loài,
Biết
mình chơn chúa học đòi Thánh-nhân.
Kề đôi vai non sông một gánh,
Ðạo với đời đôi cánh tròn
xong,
Ngai vàng vĩnh ngự thân rồng,
Rạng
danh chúa tể mới không thẹn lòng.
Bực công thần cùng thông lý
triết,
Thượng, hạ-quan hiểu biết phận
mình,
Xử tròn trung trực công bình,
Phục
tùng thượng cấp phân minh chánh tà.
Bực cao quyền đối qua hạ cấp,
Cũng công bằng minh xét chánh
chơn,
Ðừng vì lấn tước cao quờn,
Không
màng kẻ dưới, oan ưng chẳng cần.
Trên rộng lượng đức ân
dung thứ,
Dưới phục tùng thứ tự in
khuôn,
Góp công gìn giữ nước non,
Sơn
hà rạng rỡ vua quan tươi cười.
Quân cùng dân đồng thời giữ
phận,
Ðừng trái ngang bất luận pháp
điều,
Ðạo nhà luân lý một chiều,
Cha
lành, con thảo, vợ hiền, tôi ngay.
Mỗi điều được vẽ bày theo
mẫu,
Ấy là đời Nghiêu Thuấn hưởng
an,
Dương trần là cõi Thiên-Ðàng,
Gắng
công noi dấu vẹn đàng lý chơn.
Ðời phải tỉnh qua cơn mộng
huyễn,
Cảnh tương tàn diễn tiến cận
kề,
Ta không phóm phỉnh lời phê,
Ta
thương xót cảnh thảm thê đời tàn.
Vớt cho người lên thoàn khỏi
lụy,
Chớ hững hờ mà trễ đừng
than,
Sớm lo vâng thửa lời vàng,
Thì
dân mới được cứu an phục hồi.
Nay mấy lời tỏ bày hắc bạch,
Mãn điển đồng nơi cảnh Diệu-Ðàn,
Phản hồi cảnh thượng Thiên-bang,
Ta
đà nương gió vượt ngàn cung mây.